chùa đền và đình khác nhau như thế nào

Sự khác nhau giữa đình, đền, chùa, miếu, phủ, quán, am,… là điều mà không phải ai cũng biết. Đặc biệt, đa phần mọi người thường đi lễ nhưng không hiểu được ý nghĩa của chính nơi thờ cúng đó. Vậy cách phân biệt Chùa và Đình, Đền, Miếu, Nghè, Điện, Phủ, Quán, Am như thế nào? Đình còn là nơi nghỉ ngơi, dừng chân của Vua, quan khi vi hành, tuần du. Đình là nơi thờ cúng Thành Hoàng, là nơi thực thi lệ làng (thu thuế, xét xử, khao vọng, ngả vạ…). Lễ Tết, hội hè, diễn xướng đều thực hiện ở đình và sân đình. Đình là nơi nhân dân giao tiếp Chùa Tản Viên Sơn tọa lạc trên một vị thế rất đẹp trên núi Ba Vì gồm nhiều các công trình kiến trúc với các chức năng khác nhau tạo thành một chỉnh thể Phật giáo khá hoàn chỉnh đáp ứng nhu Tổ chức và điều hành; ĐGM tiền nhiệm; ĐGM đương nhiệm; GM & LM đã qua đời; Linh mục đoàn (cập nhật 01.05.2022) Giáo hạt giáo xứ; Thông báo. Tòa Giám mục; Ủy ban - Hội đoàn; Giáo hạt - Giáo xứ; Lich sinh hoat tai TTMV; Thông báo khác; Tin tức-sự kiện. Tin Giáo phận; Tin Giáo Hầu hết các địa điểm thờ cúng đều gắn với tôn giáo, tín ngưỡng, và tùy theo đối tượng được thờ mà có tên gọi khác nhau. Có thể tóm gọn lại như sau: 1. Chùa và Am đều là nơi thờ Phật nhưng Am có quy mô nhỏ và thường hoạt động riêng lẻ. Nếu vị nào tới chùa mà mang danh vị chức tước, quyền uy thế lực… thì cửa chùa tuy mở rộng đó mà lại khép kín. Ngược lại, với con người chỉ với một tấm lòng thành, chỉ một tấm lòng thành như vậy thôi mà cửa chùa luôn luôn mở rộng với mình. Đình là gì ? Vay 5s Online. 07/04/2023 Đời sống tâm linh là một phần quan trọng trong cuộc sống của người Việt, thậm chí được quan tâm chăm chút có phần nhỉnh hơn so với đời sống vật chất thường ngày. Đây là một truyền thống có từ lâu đời của dân tộc Việt Nam, được gìn giữ và lưu truyền qua các thế hệ. Đi từ cực Bắc Hà Giang cho đến mũi Cà Mau, có thể dễ dàng nhận ra những hệ thống thờ tự với nhiều dạng thức phong phú đa dạng. Trong đó, nổi bật và chiếm đa số có thể nhắc đến như đình, đền và chùa. Cùng là nơi thờ phụng, thực hành tâm linh của người dân, nhưng đình, đền và chùa có nhiều điểm khác biệt, được xây dựng nhằm phục vụ những mục đích không hoàn toàn giống nhau. Đình Thời xa xưa, đình làng chỉ là một nơi để nghỉ chân. Đến năm 1231, thượng hoàng Trần Huy Tông xuống chiếu chỉ cho đắp tượng Phật ở đình quán. Năm 1491, vua Lê Thánh Tông cho xây dựng Quảng Văn đình ngoài cửa Đại Hưng nay là Cửa Nam, Hà Nội, là nơi để dân đánh trống kêu oan và bố cáo những chính sách của triều đình. Đến thời Lê Sơ, đình làng mới dần định hình chức năng thờ Thành hoàng và là nơi hội họp của người dân trong làng. Mọi công việc quan trọng của làng đều được tổ chức ở đây. Tục thờ Thành hoàng bắt đầu du nhập vào nước ta từ thế kỉ XV, trở nên phổ biến rộng rãi vào thế kỉ XVI. Các làng quê ở miền Bắc chịu ảnh hưởng của phong tục này sâu sắc hơn làng quê miền Nam – vốn mới được hình thành các năm sau này. Thành hoàng là một vị thần không có tên tuổi, lai lịch cụ thể, được xem là vị thần “hộ quốc tỳ dân”, trấn giữ an nguy cho địa phương nơi vị thần ấy được thờ tự. Kiến trúc của những ngôi đình được xây dựng dựa trên những nguyên tắc phong thuỷ. Địa điểm xây đình thường được chọn tại vị trí trung tâm, thuận tiện cho dân làng hội họp vào các dịp lễ hội. Đình làng thường nhìn ra sông, hoặc phải có ao, giếng làng phía trước cho đúng thế “tụ thuỷ”, là điềm mang lại sự thịnh vượng cho cả làng. Đền Khác với đình làng, đền thờ là công trình được xây dựng để thờ một vị thần cụ thể, có tên tuổi rõ ràng trong tôn giáo hoặc tín ngưỡng địa phương, ví dụ như đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Quán Thánh, đền Gióng,… Nhiều nơi, đền được xây dựng để thờ những vị quan giỏi tướng tài, có công với đất nước, dân tộc, như đền thờ Vua Hùng, đền thờ Hai Bà Trưng, đền thờ Đức Thánh Trần,… Đền thờ thường được xây dựng tại địa điểm được cho là gắn liền với xuất thân hoặc nơi diễn ra các sự tích liên quan đến các vị thần. Với các danh tướng, người có công với dân tộc, đền thờ thường được đặt tại quê hương các Ngài hoặc những nơi tôn nghiêm, trang trọng. Người dân đến đền dâng hương để bày tỏ sự biết ơn, tưởng nhớ đến các vị thần, các anh hùng dân tộc, đồng thời bày tỏ ước ao được che chở, có nhiều may mắn cũng như thừa hưởng những đức tính uy dũng của các Ngài. Chùa Chùa là một công trình kiến trúc phục vụ mục đích tín ngưỡng. Chùa trong tiếng Hán Việt có nghĩa là “tự viện”, là nơi an trí tôn tượng các vị Phật và Bồ Tát, là chỗ lưu trú, tu tập của các vị tăng ni. Dù theo đạo Phật hay không có bất cứ một tín ngưỡng nào, bất cứ ai cũng có thể viếng thăm chùa mà không gặp trở ngài nào. Nếu như đình thường được xây dựng tại trung tâm làng xã, đền xây dựng ở những nơi gắn liền với các điển tích lịch sử, thì chùa, thường được xây dựng ở những khu vực yên tĩnh, tách biệt với cộng đồng làng xã, thường gặp nhất là trên những đỉnh núi cao. Chùa Việt Nam thường không phải là một công trình riêng biệt mà là một quần thể kiến trúc, gồm nhiều công trình nhỏ đặt cạnh nhau như đại điện, khu vực lưu trú của tăng ni, các gian thờ phụ, nơi lưu trú cho khách, nhà bếp,… Tuỳ theo các nhánh nhỏ trong Phật giáo mà kiến trúc chùa cũng có sự khác biệt. Ngày nay, hầu hết các địa điểm thờ cúng đều gắn với tôn giáo, tín ngưỡng, và tùy theo đối tượng được thờ mà có tên gọi khác nhau. Cùng Đồ đồng Việt nhận đúc tượng Phật uy tín chất lượng tìm hiểu qua bài viết sau. Phân loại theo quy mô địa điểm thờ cúng 1. Am và Chùa đều là nơi thờ Phật nhưng Am có quy mô nhỏ hơn chùa và thường hoạt động riêng lẻ. Chùa là nơi tập trung sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật của các nhà sư, tăng, ni mang tính chất tập thể – Chùa mà có khoảng từ 20 vị tăng tu tập trở lên gọi là Tu Viện. – Chùa có hệ phái khất sĩ gọi là Tịnh Xá ở trong miền Nam. – Những nơi tu tập có khu tăng, khu ni, có nhiều khu, nhiều chùa gọi là Đại Tòng Lâm. 2. Đình, Đền, Miếu, Điện đều là nơi linh thiêng thờ Thánh, Thần. Đình thường thoáng, cao, rộng, phù hợp với hội họp làng xã. Còn Đền, Miếu, Điện thường tối hơn, tạo cảm giác thiêng liêng, huyền bí cho người tới cầu cúng lễ bãi. Nhìn chung, Miếu có cấu trúc nhỏ hơn Điện, Điện nhỏ hơn Đền và Đền nhỏ hơn Đình Miếu < Điện < Đền < Đình. Thông thường mỗi làng chỉ có 1 Đình nhưng có thể có nhiều Đền, Miếu. 3. Phủ là nơi thờ Mẫu và truyền bá đạo Mẫu. Tuy nhiên cũng có nhiều phủ thờ cả Phật, đây được coi như sự giao thoa hòa nhập giữa các tôn giáo, tín ngưỡng. 4. Quán là nơi tu luyện và thờ cúng của Đạo giáo. Tại Việt Nam các nền văn hoá tín ngưỡng thường giao thoa hoà nhập với nhau rất sâu đây cũng là nét đặc trưng văn hóa tín ngưỡng tại Việt Nam. Có khi Chùa thờ cả Thần kiến trúc Tiền Phật hậu Thánh, Chùa thờ cả Mẫu Tiền Phật hậu Mẫu… Vì thế sự phân biệt ở đây là không rõ ràng trong đối tượng thờ cúng. Các bạn nên đặc biệt lưu ý đặc điểm này để tránh việc cầu xin không đúng ban, đúng chỗ, cũng như đặt lễ và hành lễ sai nghi thức. Ví dụ để đồ mặn, đồ vàng mã ở Ban thờ Phật hoặc để đồ sống ở ban thờ Mẫu. Tham khảo thêm đúc chuông chùa ở đâu uy tín? Ngay bản thân Đền, nếu đi sâu tìm hiểu sẽ rất phức tạp, khó phân loại. Có nơi thờ Nam thần, có nơi thờ Nữ thần. Thông thường đền thờ Nam thần thì to hơn Nữ thần nhưng đền thờ Nữ thần thì lại nhiều ban thờ hơn như ban Tứ phủ công đồng, ban Cô, ban Cậu. Tuy nhiên, hiện lại có 1 số đền thờ Nam thần lại cũng có ban thờ Mẫu, rồi thờ Cô, thờ Cậu… Ở Nhật, chùa và đền có ở khắp mọi nơi từ thành phố đến ngoại ô, làng xã hay thậm chí ở cả những vùng sâu vùng xa, trên núi cao. Không gian ở chùa, đền rất yên tĩnh và linh thiêng. Vào dịp đầu năm mới, người Nhật thường đi lễ chùa hay viếng đền để cầu may mắn, bình an. Họ cũng thường thỉnh những lá bùa may mắn ở chùa hay đền để hộ thân. Tuy cùng là nơi thờ cúng, thực hành tín ngưỡng phổ biến ở Nhật nhưng đền và chùa có chút khác nhau. Tôn giáo Điểm khác biệt cơ bản đầu tiên là khởi nguồn tôn giáo. Đền thờ là một phần của tín ngưỡng Thần đạo, tôn giáo cổ xưa, nguyên thủy của Nhật Bản. Tín đồ Thần giáo tin rằng vạn vật trong tự nhiên đều có linh hồn. Mỗi ngọn núi, con sông, khu rừng, cây cối, tảng đá… đều có một linh hồn ngự trị, cần được tôn kính và thờ cúng. Người Nhật tin rằng các vị Thần linh cư ngụ trong các vật linh thiêng được thờ cúng bên trong ngôi đền. Vị trí đặt ngôi đền là nơi khi xưa thường diễn ra các nghi lễ linh thiêng. Các Thần sư nhà sư sinh sống và tu tập ở đền thờ và các vu nữ quanh năm chuẩn bị cho các nghi lễ. Tên của ngôi đền thường được đặt theo tên của vị Thần được thờ cúng trong đền. Những ngôi đền lớn, nổi tiếng được gọi là Jingu 神宮 / じんぐう hoặc Taisha 大社 / たいしゃ. Ví dụ như Meiji Jingu ở Harajuku, Ise Jingu ở tỉnh Mie và Izumo Taisha ở tỉnh Shimane. Phật giáo ở Nhật Bản có nguồn gốc từ Phật giáo Ấn Độ được du nhập qua Trung Quốc rồi được đưa vào Nhật Bản. Trong chùa có thờ nhiều vị Phật như Phật Thích Ca Mâu Ni Dainichinyorai, Phật Dược Sư Yakushinyorai, Quan Thế Âm Bồ Tát Shokanzeonbosatsu và các vị Phật khác tùy vào nhánh tín ngưỡng của ngôi chùa đó. Các Phật sư sống và tu tập tại chùa. Hàng ngày lo kinh kệ và chăm sóc, dọn dẹp chỗ tu tập. Ở Nhật, đôi khi, Bạn còn có thể thấy một ngôi chùa và đền ở cùng một nơi, được gọi là chùa đền 神宮寺 / じんぐうじ / jingū ji. Sở dĩ có sự hòa hợp này là vì trước đây cho đến thời Meji 1868 – 1912, người Nhật tin rằng các vị thần cũng phải chịu nghiệp chướng và cần đến sự cứu rỗi của Phật giáo. Cho nên, chùa được dựng lên cạnh đền để cứu rỗi cho vị thần. Lối vào Một dấu hiệu khác biệt dễ nhìn thấy nhất là lối vào của chùa và đền. Để vào ngôi đền Thần giáo, Bạn phải đi qua một cổng thiêng tori sơn màu son đỏ 鳥居 /とりい, biểu tượng ranh giới ngăn cách giữa thế giới trần tục bên ngoài và thế giới linh thiêng của các vị Thần bên trong đền. Hai bên cổng có 2 linh vật bằng đá komainu 狛犬 /こまいぬ trong hình dáng của chó hoặc sư tử đứng bảo vệ đền. Lối vào chùa thì cầu kỳ hơn và khác với lối vào của một ngôi đền. Những ngôi chùa lớn thường có 2 vị Thần Niō 仁王 / におうÔng Thiện, Ông Ác trấn cửa để bảo vệ chùa khỏi quỷ dữ. Bên trong Trong khuôn viên một ngôi đền, người ta thường thấy có cây, hoa, đá tảng. Đặc biệt, thường có một cây lớn được trang trí bằng những dải shide 四手 / しで, là những dải giấy hình zigzag, được gắn vào vòng dây shimenawaしめ縄 / しめなわ bao quanh thân cây. Vật thờ cúng bên trong một ngôi đền có thể là một cái cây, một tảng đá hay đôi khi cũng có thể là một khuôn viên linh thiêng có mối liên hệ với một nhân vật trong lịch sử Nhật Bản. Trong khuôn viên một ngôi chùa có thể có rất nhiều cây cối, hoa và đá tảng nhưng thường những thứ này là một phần thường thấy của khu vườn trong chùa, không phải là những vật được thờ phụng, cúng tế. Những vật được thờ cúng trong chùa là các tượng Phật butsuro 仏像 /ぶつぞう đặt trong chánh điện. Chánh điện cũng là khu lễ bái chính của khách đi lễ. Lễ & sự kiện Cả chùa lẫn đền đều tổ chức các buổi hành lễ tín ngưỡng. Một số nghi lễ trở nên rất quan trọng trong đời sống tâm linh của người Nhật như trong tập tục lễ chùa/viếng đền đầu năm hatsumode. Ngoài ra, đám cưới thì thường được làm lễ ở đền trong khi đám ma sẽ diễn ra ở chùa. Cho nên, ở chùa, người ta thường thấy có khu vực để thờ cúng người đã khuất. Cách cúng bái Khi đi lễ chùa hay viếng đền, khách đi lễ đều cúi lạy trước khi bước vào hay trước khi rời chùa, đền. Ở lối vào, khách đi lễ phải thực hiện phong tục rửa tay ở chōzuya 手水舎 / ちょうずや để thanh tẩy cơ thể và tâm trí của mình trước khi lễ các vị Thần, Phật. Sự khác biệt trong cách cúng bái thể hiện ở nghi thức lễ bái. Ở đền, khách đi viếng sẽ cuối lạy 2 lần, đập 2 tay vào nhau 2 cái, cầu nguyện, cuối lạy lần cuối. Trong khi ở chùa, khách đi lễ chỉ cần cuối lạy 1 lần trước khi cầu nguyện và 1 lần sau khi cầu nguyện. Không có đập tay. Theo Aichi Việt Nam. Đăng nhập Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam có rất nhiều nơi thờ cúng khác nhau như đình, đền, chùa, miếu, phủ, quán, am… nhưng không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của những địa điểm thờ cúng đó. Hiện nay, có rất nhiều người đi chùa mà không hiểu được ý nghĩa của việc đi chùa, ở gần nhà có cái đình mà cũng không hiểu vì sao cái đình lại “mọc” lên ở đó… Vì vậy, chúng tôi đã biên tập bài viết này để giúp bạn đọc dễ dàng phân biệt được các địa điểm thờ cúng khác nhau, hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng và những nhân vật được thờ cúng trong đó. Chùa là gì? Chùa là một công trình kiến trúc phục vụ mục đích tín ngưỡng. Chùa được xây dựng phổ biến ở các nước Đông Á và Đông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và thường là nơi thờ Phật. Tại nhiều nơi, chùa có nhiều điểm giống với chùa tháp của Ấn Độ, vốn là nơi cất giữ Xá-lị và chôn cất các vị đại sư, thường có nhiều tháp bao xung quanh. Chùa Một Cột có phong cách kiến trúc độc đáo Chùa là nơi tiêu biểu cho Chân như, được nhân cách hóa bằng hình tượng một đức Phật được thờ ngay giữa chùa. Nhiều chùa được thiết kế như một Man-đa-la, gồm một trục ở giữa với các vị Phật ở bốn phương. Cũng có nhiều chùa có nhiều tầng, đại diện cho Ba thế giới tam giới, các cấp bậc tiêu biểu cho Thập địa của Bồ Tát. Có nhiều chùa được xây tám mặt đại diện cho Pháp luân hoặc Bát chính đạo. Chùa còn là nơi tập trung của các sư, tăng, hay ni nếu là chùa nữ sinh hoạt, tu hành, và thuyết giảng đạo Phật. Tại nơi này, mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ tôn giáo. "Chùa chiền" theo Hán-Việt còn có nghĩa là "tự viện", là một nơi an trí tượng Phật và là chỗ cứ trú tu hành của các tăng ni. Ngày nay trong thực tế chùa được gọi bằng cả từ Hán-Việt phổ thông như "Tự", "Quán", "Am". Đình là gì? Trước kia theo tình hình chung của cả nước, đình của các làng mạc Việt Nam chỉ là quán để nghỉ. Năm 1231 Trần Nhân Tông xuống chiếu cho đắp tượng Phật ở đình quán. Năm 1491 nhà vua cho xây dựng Quảng Văn đình là nơi để dân chúng đánh trống kêu oan và nơi ban bố, giảng giải các chính sách của nhà nước phong kiến tại Thăng Long. Ngôi đình làng với chức năng là nơi thờ thành hoàng và là nơi hội họp của dân chúng có lẽ bắt đầu vào thời Lê sơ và định hình vào thời nhà Mạc.[1] Có lẽ sự phát triển của Nho giáo vào cuối thế 15 đã cấy dần Thành hoàng vào đình làng. Nhưng hiện nay dấu vết sớm nhất của đình làng thì Thành hoàng chỉ gặp từ thế kỷ 16. Trước đây đình thường chỉ có 3 gian và 2 chái. Gian giữa không có sạp, trong gian thờ Thành hoàng. Cuối thế kỷ 17 từ gian giữa và kéo dài về sau gọi là chuôi vồ, tạo cho đình làng mang kiểu chữ Đinh. Cuối thế kỷ 17, nhất là thế kỷ 19, đình làng được bổ sung tòa tiền tế. Đình làng Đình Bảng là một ngôi đình cổ kính nổi tiếng nhất của đất Kinh Bắc, được xây dựng từ năm 1700 và đến năm 1736 mới được hoàn thành. Ảnh VOV Thành hoàng là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng ấp hay sáng lập nên một nghề ông tổ của nghề. Dưới các triều vua thường có sắc phong cho Thành hoàng, vì hầu hết Thành hoàng đều có công với nước. Dân làng, hay phường hội đi lập nghiệp nơi khác tcũng xây miếu, đền thờ Thành hoàng quê gốc của mình tại nơi ở mới. Đền là gì? Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị Thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng theo truyền thuyết dân gian. Ở Việt Nam có nhiều nhân vật có thực trong lịch sử được xây dựng đền thờ ở rất nhiều nơi là các vị vua Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Đinh Tiên Hoàng, Lê Đại Hành; các nhân vật lịch sử Lý Quốc Sư, Lý Thường Kiệt, Tô Hiến Thành, Thánh Tam Giang, Trần Hưng Đạo và các vị thần thánh như Tản Viên, Cao Sơn, Quý Minh. Di tích Đền Mục - Đền thờ Vua Lý Nam Đế ở thôn Cổ Pháp, xã Tiên Phong, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên Các đền nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần… thờ các anh hùng dân tộc. Đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh… thờ các vị thánh theo truyền thuyết dân gian. Miếu là gì? Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có quy mô nhỏ hơn đền. Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, thể hiện ở tên gọi của miếu – tên gọi theo đối tượng được thờ thường phiếm chỉ và tượng trưng. Ví dụ miếu Cô, miếu Cậu, miếu thờ thần núi gọi chung là miếu Sơn thần, miếu thờ thần nước gọi là miếu Hà Bá hoặc miếu Thủy thần. Miếu thờ thần đất gọi là miếu thổ thần hoặc thần Hậu thổ. Thủy Thần Miếu-Miếu Bà Thủy Thị trấn cái Đôi Vàm, huyện Phú Tân, Cà Mau Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân sinh. Ở một số nơi, trong các ngày giỗ thần như ngày sinh, ngày hóa nhân thần, ngày hiện hóa thiên thần làng mở tế lễ, mở hội, nghinh rước thần từ miếu về đình. Tế lễ xong, lại rước thần về miếu yên vị. Miếu nhỏ còn được gọi là Miễu cách gọi của người miền Nam Nghè là gì? Một hình thức của đền miếu, thờ thần thánh. Đây là kiến trúc thường có mối quan hệ chặt chẽ với một di tích trung tâm nào đó. Nghè có khi thờ thành hoàng làng ở làng nhỏ, được tách ra từ làng gốc như Nghè Hải Triều Cẩm Giàng – Hải Dương. Nghè cổ Quan Lạn - Quảng Ninh có kiến trúc cổ từ thời Trần Nghè cũng có thể là một ngôi đền nhỏ của một thần trong xã nhằm thích ứng với dân sở tại để tiện việc sinh hoạt tâm linh khi ngôi đền chính khó đáp ứng được nhu cầu thờ cúng thường nhật, như Nghè ở Trường Yên là một kiến trúc phụ của đền vua Đinh. Hiện ngôi nghè cổ nhất được tìm thấy từ thế kỷ XVII. Điện thờ là gì? Điện là sảnh đường cao lớn, thường chỉ chỗ Vua Chúa ở, chỗ Thần Thánh ngự. Như vậy Điện thờ là một hình thức của Đền, là nơi thờ Thánh trong tín ngưỡng Tam tứ phủ. Điện thờ Mẫu Tuy vậy quy mô của Điện nhỏ hơn Đền và Phủ, lớn hơn so với Miếu Thờ. Điện thông thường thờ Phật, thờ Mẫu, Công đồng Tam tứ phủ, Trần Triều và các vị thần nổi tiếng khác. Điện có thể của cộng đồng hoặc tư nhân. Trên bàn thờ thường có ngai, bài vị, khám, tượng chư vị thánh thần và các đồ thờ khác tam sơn, bát hương, cây nến, đài, lọ hoa, vàng mã,… Phủ là gì? Phủ là đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam. Một số nơi thờ tự ở Thanh Hóa gọi đền là phủ. Phủ Tây Hồ Có thể hiểu Phủ là nơi thờ tự Thánh Mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi đến hành hương tương tự như chốn Tổ của sơn môn đạo Phật. Ngôi phủ sớm nhất còn lại hiện biết là điện thờ các thần vũ nhân ở chùa Bút Tháp, có niên đại vào giữa thế kỷ XVII. Quán là gì? Quán là một dạng đền gắn với đạo Lão Đạo giáo. Vào các thế kỷ XI và XIV đạo Lão ở Việt nặng xu hướng thần tiên nên điện thờ thực chất giống như một đền thờ thần thánh. Sang tới thế kỷ XVI và XVII, sự khủng hoảng của Nho giáo đã đẩy một số nhà Nho và một bộ phận dân chúng quan tâm nhiều tới Lão giáo, và điện thờ đạo Lão có nhiều sự phát triển mới, với việc thờ cúng các thần linh cơ bản theo Trung Hoa. Bích câu đạo quán Đó là Tam thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân, Ngũ Nhạc mà nổi lên với Đông Phương Sóc và Tây Vương Mẫu, rồi Thánh Phụ, Thánh Mẫu. Cửu Diệu Tinh Quân Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Mặt Trời, Mặt Trăng, Hồ phủ, Kế đô đồng thời trên chính điện cũng có cả tượng của Hoàng Quân giáo chủ Ngọc Hoàng. Có thể kể tới các quán điển hình như Hưng Thánh Quán, Lâm Dương Quán, Hội Linh Quán, Linh Tiên Quán… đều ở Hà Tây cũ nay là Hà Nội. “Thăng Long Tứ quán” bao gồm Chân Vũ quán tức đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh; Huyền Thiên cổ quán nay là chùa Quán Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai; Đồng Thiên quán nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành; Đế Thích quán nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên. Am là gì? Hiện được coi là một kiến trúc nhỏ thờ Phật. Gốc của Am từ Trung Quốc, được mô tả như ngôi nhà nhỏ, lợp lá, dùng làm nơi ở của con cái chịu tang cha mẹ, về sau đổi kết cấu với mái tròn, lợp lá, làm nơi ở và nơi đọc sách của văn nhân. Từ đời Đường, Am là nơi tu hành và thờ Phật của ni cô đặt trong vườn tư gia. Với người Việt, am là nơi thờ Phật Hương Hải am tức Chùa Thầy, Thọ Am tức Chùa Đậu – Hà Tây… cũng có khi am là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của xóm làng – Vào thế kỷ XV thời Lê sơ là nơi ở tĩnh mịch để đọc sách làm thơ của văn nhân. Miếu thờ thần linh ở các làng hoặc miếu cô hồn ở bãi tha ma cũng gọi là am. Không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của những địa điểm thờ cúng như đình, đền, chùa, miếu, phủ, quán, am... Trong đời sống văn hóa tâm linh của người Việt Nam có rất nhiều nơi thờ cúng khác nhau như đình, đền, chùa, miếu, phủ, quán, am,… Nhưng không phải ai cũng hiểu được ý nghĩa của những địa điểm thờ cúng đó. Cho nên có rất nhiều người đi chùa mà không hiểu được ý nghĩa của việc đi chùa, ở gần nhà có cái đình mà cũng không hiểu vì sao cái đình lại “mọc” lên ở đó,… Vì vậy, chúng tôi đã biên tập bài viết này để giúp bạn đọc dễ dàng phân biệt được các địa điểm thờ cúng khác nhau, hiểu được ý nghĩa của việc thờ cúng và những nhân vật được thờ cúng trong đó. Chùa là gì? Chùa là cơ sở hoạt động và truyền bá Phật giáo, là nơi tập trung sinh hoạt, tu hành và thuyết giảng đạo Phật của các nhà sư, tăng, ni. Mọi người kể cả tín đồ hay người không theo đạo đều có thể đến thăm viếng, nghe giảng kinh hay thực hành các nghi lễ Phật giáo. Ở một số nơi, chùa cũng là nơi cất giữ xá lị và chôn cất các vị đại sư. Đình là gì? Đình là nơi thờ Thành hoàng của các làng, đồng thời là nơi hội họp, bàn việc của dân làng. Đình được coi là trung tâm sinh hoạt văn hóa gắn bó với một cộng đồng cư dân và mang đặc trưng của nền văn minh lúa nước Việt Nam. Đình làng Đình Bảng. Thành hoàng là người có công với dân, với nước, lập làng, dựng ấp hay sáng lập nên một nghề ông tổ của nghề. Dưới các triều vua thường có sắc phong cho Thành hoàng, vì hầu hết Thành hoàng đều có công với nước. Dân làng, hay phường hội đi lập nghiệp nơi khác cũng xây miếu, đền thờ Thành hoàng quê gốc của mình tại nơi ở mới. Đền là gì? Đền là công trình kiến trúc được xây dựng để thờ cúng một vị Thánh hoặc những nhân vật lịch sử được tôn sùng như thần thánh. Ở Việt Nam, phổ biến nhất là các đền thờ được xây dựng để ghi nhớ công ơn của các anh hùng có công với đất nước hay công đức của một cá nhân với địa phương được dựng theo truyền thuyết dân gian. Đền Kiếp Bạc. Các đền nổi tiếng có thể kể đến ở nước ta như Đền Hùng, đền Kiếp Bạc, đền Sóc, đền Trần… thờ các anh hùng dân tộc. Đền Voi Phục, đền Bạch Mã, đền Kim Liên, đền Quán Thánh…thờ các vị thánh theo truyền thuyết dân gian. Miếu là gì? Miếu là một dạng di tích văn hóa trong tín ngưỡng dân gian Việt Nam có quy mô nhỏ hơn đền. Đối tượng được thờ ở miếu rất đa dạng, thể hiện ở tên gọi của miếu – tên gọi theo đối tượng được thờ thường phiếm chỉ và tượng trưng. Ví dụ miếu Cô, miếu Cậu, miếu thờ thần núi gọi chung là miếu Sơn thần, miếu thờ thần nước gọi là miếu Hà Bá hoặc miếu Thủy thần. Miếu thờ thần đất gọi là miếu thổ thần hoặc thần Hậu thổ. Miếu thường được xây trên gò cao, nơi sườn núi, bờ sông hoặc đầu làng, cuối làng, những nơi yên tĩnh để quỷ thần có thể an vị, không bị mọi sự ồn ào của đời sống dân sinh. Ở một số nơi, trong các ngày giỗ thần như ngày sinh, ngày hóa nhân thần, ngày hiện hóa thiên thần làng mở tế lễ, mở hội, nghinh rước thần từ miếu về đình. Tế lễ xong, lại rước thần về miếu yên vị. Miếu nhỏ còn được gọi là Miễu cách gọi của người miền Nam Nghè là gì? Một hình thức của đền miếu, thờ thần thánh. Đây là kiến trúc thường có mối quan hệ chặt chẽ với một di tích trung tâm nào đó. Nghè có khi thờ thành hoàng làng ở làng nhỏ, được tách ra từ làng gốc như Nghè Hải Triều Cẩm Giàng – Hải Dương. Nghè cũng có thể là một ngôi đền nhỏ của một thần trong xã nhằm thích ứng với dân sở tại để tiện việc sinh hoạt tâm linh khi ngôi đền chính khó đáp ứng được nhu cầu thờ cúng thường nhật, như Nghè ở Trường Yên là một kiến trúc phụ của đền vua Đinh. Hiện ngôi nghè cổ nhất được tìm thấy từ thế kỷ XVII. Điện thờ là gì? Điện là sảnh đường cao lớn, thường chỉ chỗ Vua Chúa ở, chỗ Thần Thánh ngự. Như vậy Điện thờ là một hình thức của Đền, là nơi thờ Thánh trong tín ngưỡng Tam tứ phủ. Tuy vậy quy mô của Điện nhỏ hơn Đền và Phủ, lớn hơn so với Miếu Thờ. Điện thông thường thờ Phật, thờ Mẫu, Công đồng Tam tứ phủ, Trần Triều và các vị thần nổi tiếng khác. Điện có thể của cộng đồng hoặc tư nhân. Trên bàn thờ thường có ngai, bài vị, khám, tượng chư vị thánh thần và các đồ thờ khác tam sơn, bát hương, cây nến, đài, lọ hoa, vàng mã,… Phủ là gì? Phủ là đặc trưng của tín ngưỡng thờ Mẫu tín ngưỡng bản địa của người Việt Nam. Một số nơi thờ tự ở Thanh Hóa gọi đền là phủ. Có thể hiểu Phủ là nơi thờ tự Thánh Mẫu khá sầm uất, mang tính chất trung tâm của cả một vùng lớn, vượt ra ngoài phạm vi địa phương, thu hút tín đồ khắp nơi đến hành hương tương tự như chốn Tổ của sơn môn đạo Phật. Ngôi phủ sớm nhất còn lại hiện biết là điện thờ các thần vũ nhân ở chùa Bút Tháp, có niên đại vào giữa thế kỷ XVII. Quán là gì? Quán là một dạng đền gắn với đạo Lão Đạo giáo. Vào các thế kỷ XI và XIV đạo Lão ở Việt nặng xu hướng thần tiên nên điện thờ thực chất giống như một đền thờ thần thánh. Bích Câu đạo quán. Sang tới thế kỷ XVI và XVII, sự khủng hoảng của Nho giáo đã đẩy một số nhà Nho và một bộ phận dân chúng quan tâm nhiều tới Lão giáo, và điện thờ đạo Lão có nhiều sự phát triển mới, với việc thờ cúng các thần linh cơ bản theo Trung Hoa. Đó là Tam thanh Nguyên Thủy Thiên Tôn, Linh Bảo Đạo Quân, Thái Thượng Lão Quân, Ngũ Nhạc mà nổi lên với Đông Phương Sóc và Tây Vương Mẫu, rồi Thánh Phụ, Thánh Mẫu. Cửu Diệu Tinh Quân Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, Mặt Trời, Mặt Trăng, Hồ phủ, Kế đô đồng thời trên chính điện cũng có cả tượng của Hoàng Quân giáo chủ Ngọc Hoàng. Có thể kể tới các quán điển hình như Hưng Thánh Quán, Lâm Dương Quán, Hội Linh Quán, Linh Tiên Quán… đều ở Hà Tây cũ nay là Hà Nội. “Thăng Long Tứ quán” bao gồm Chân Vũ quán tức đền Quán Thánh ở phố Quán Thánh; Huyền Thiên cổ quán nay là chùa Quán Huyền Thiên ở phố Hàng Khoai; Đồng Thiên quán nay là chùa Kim Cổ ở phố Đường Thành; Đế Thích quán nay là chùa Vua ở phố Thịnh Yên. Am là gì? Hiện được coi là một kiến trúc nhỏ thờ Phật. Gốc của Am từ Trung Quốc, được mô tả như ngôi nhà nhỏ, lợp lá, dùng làm nơi ở của con cái chịu tang cha mẹ, về sau đổi kết cấu với mái tròn, lợp lá, làm nơi ở và nơi đọc sách của văn nhân. Từ đời Đường, Am là nơi tu hành và thờ Phật của ni cô đặt trong vườn tư gia. Với người Việt, Am là nơi thờ Phật Hương Hải am tức Chùa Thầy, Thọ Am tức Chùa Đậu – Hà Tây… cũng có khi am là ngôi miếu nhỏ thờ thần linh của xóm làng – Vào thế kỷ XV thời Lê sơ là nơi ở tĩnh mịch để đọc sách làm thơ của văn nhân. Miếu thờ thần linh ở các làng hoặc miếu cô hồn ở bãi tha ma cũng gọi là Am.

chùa đền và đình khác nhau như thế nào